Home / Ngữ văn 12 / Tóm tắt vợ chồng A Phủ – Soạn văn lớp 12

Tóm tắt vợ chồng A Phủ – Soạn văn lớp 12

Web: Soạn văn lớp 12 sẽ giúp bạn soạn văn bài tóm tắt Vợ chồng A Phủ ngữ văn 12. soạn ngữ văn lớp 12,soạn bài,bai soan ngu van 12,hoc tot ngu van 12,soan van 12,soan van lop 12,nhung bai van hay lop 12,học tốt ngữ văn 12 luyện thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp

Các bài soạn văn lớp 12 trong tập 1: Click here

Tóm tắt Vợ chồng A Phủ

      Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn đặc sắc, trích từ tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài.

      Năm 1952, Tô Hoài đi cùng bộ đội vào giải phóng vùng Tây Bắc. Với chuvến đi dài tám tháng ấy, nhà văn đã sống cùng đồng bào các dân tộc Mèo, Dao, Thái, Mường ở nhiều vùng nơi đây. Chuyên đi thực tế sáng tác ấy giúp ông hiểu biết rõ ràng, sâu sắc về cuộc sống và con người miền núi. Nó đã để lại cho ông những kỉ niệm khó quên và tình cảm thắm thiết đối với đâ’t nước và con người Tây Bắc.

      Truyện Tây Bắc – Kết quả của chuyên đi đó là một trong những tác phẩm văn xuôi đặc sắc, tiêu biểu của văn học thời kì kháng chiến chông Pháp. Tác phẩm này đã được tặng giải nhất của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955.

      Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ trích từ tập truyện trên có thể tóm tắt như sau:

      Mị là một thiếu nữ xinh đẹp. Do gia đình thiếu nợ thông lí Pá Tra và không trả nổi nên cô bị bắt về làm dâu nhà thông lí, làm vợ của A Sử dể trừ nợ. Tuy danh nghĩa là vợ, là dâu nhưng thực chất cô chỉ là người ở dợ không công trọng nhà ấy. Cô rất đau khổ trong cuộc đời buồn rầu u tôi. Vào một đêm xuân đẹp, MỊ muôn đi chơi nhưng đã bị A Sử bắt gặp, trói cô vào góc cột. Đêm đó, A Sử đi chơi, chọc phá dân làng bị A Phủ đánh bể đầu. Nhờ đó, MỊ được thả ra để chăm sóc thuốc thang cho hắn.

      A Phủ bị bắt về nhà thống lí và bị phạt phải ở dợ trọn đời để trả món nợ một trăm đồng mà thô’ng lí đã buộc anh phải vay đế’ làm bữa tiệc đãi mọi người.

      Một lần A Phủ đi chăn bò làm lạc mất một con. Thông lí_Pá Tra cho trói anh vào gốc cây. Đêm đêm, Mị thổi lửa hơ tay gần đó mà không để ý: Một hôm, MỊ chợt thấy dòng nước mắt lăn dài trên má A Phủ và bỗng quan tâm. Nghĩ lại đời mình, cô cảm thông và thương xót cho A Phủ nên cất dây mây, cởi trói cho anh. A Phủ chạy đi, Mị cũng vụt chạy theo anh vì không còn con đường nào khác.

      Hai người ra khỏi Hồng Ngài tới Phiềng Sa rồi kết nghĩa thành vợ chồng.

      Gặp cán bộ A Châu, A Phủ được giác ngộ cách mạng và trở thành đội trưởng du kích.

      Thông qua việc miêu tả cuộc sông nhọc nhằn, khổ ải dưới ách thông trị của thống lí Pá Tra và cuộc đổi đời lớn lao khi cách mạng về của vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã phản ánh cuộc sống bị bóc lột tàn tệ của người dần tộc, đặc biệt là phụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến, sự quật khởi mạnh mẽ của họ, đồng thời nói lên công Ơ11 to lớn, bản chất nhân dạo tốt đẹp của cách mạng, tình đoàn kết dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng.

Đoạn văn trích giảng trong Sách giáo khoa có ba phần:

      – Phần 1: Tình cảnh Mị làm con dâu gạt nợ cho nhà thông lí Pá Tra.

      – Phần 2: Tình cảnh của A Phủ, cảnh A Phủ đánh A Sử và cuộc xử kiện kì quặc trong nhà thông lí.

      – Phần 3: Việc Mị và A Phủ trôn khỏi Hồng Ngài.

Các bài trước:

Các bài sau:

1. Tình cảnh Mị làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra

      – Mị là một cô gái xinh đẹp, dù đói nghèo nhưng vẫn hạnh phúc. Vốn giàu sức sống lại có đời sông tinh thần phong phú, chị hát hay và thổi sáo giỏi. Tuổi yêu đương, những đêm tình mùa xuân con trai đến thổi sáo đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị. Chị có biết bao người say mê, ngày đêm thổi sáo theo chị hết núi này sang núi khác. Và chị cũng có một tình yêu gõ vách hẹn hò… Nhưng rồi tất cả đều chấm dứt kế từ cái đêm Mị bị bắt cóc về nhà thông lí Pá Tra làm con dâu gạt nợ.

      – Từ đó, Mị bị đối xử hết sức tàn tệ chẳng khác chi một công cụ biết nói. Quanh năm suốt tháng, chị phải làm lụng quần quật, khổ cực quá chừng: Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được dứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cà đêm cả ngày, sống lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa, lúc nào Mị cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi, chị không mong đợi bất kì cái gì và cũng chẳng còn có khái niệm gì về không gian hay thời gian nữa. Mị tin rằng mình dã bị trình .ma nhà thông lí chỉ còn biết đợi ngàv rũ xương ở đây thôi.

      – Tuy vậy, trong tâm thức của cô gái Hmông đau khố này vẫn âm ỉ khôn nguôi lòng ham sông, một khát vọng tự do, hạnh phúc mãnh liệt không có sự bạo tàn nào dập vùi trói buộc nổi. Gặp cơ hội thuận lợi là lòng ham sông, khát vọng đó lại trỗi dậy mãnh liệt.

      – Còn nhớ lúc đầu bị bắt về làm dâu nhà Pá Tra, đêm nào Mị cũng khóc. Chị phản kháng quyết liệt, định ăn lá ngón tự tử. Nhưng rồi lòng hiếu thảo không cho phép Mị làm việc dó. Ách áp bức nặng nề của thế lực phong kiến và thần quyền ở miền núi đã buộc chị phải tiếp tục sông mà như đã chết.

      – Nhưng Mị phải đâu đã an phận chấp nhận cuộc sống đọa đày đen tối. Khi đêm tình mùa xuân đến, lòng ham sông, niềm khát khao hạnh phúc tình yêu ở cô gái khốn khố này lại một lần nữa trỗi dậy. Bất chợt, cô nhớ đến những ngày tươi đẹp trong quá khứ. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi.. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp lửa và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Thế là chị bước đến góc nhà “lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đòn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn đi chơi”. Nhưng lập tức, chị đã bị A Sử trói vào cột nhà. Lúc ấy tuy đau đớn, nhưng Mị vẫn thả hồn mình theo những đám chơi xuân với những tiếng hát xuân tình tứ. Sau cùng chị nhận ra số phận mình hiện tại “không bằng con ngựa”.

      – Sức sông mãnh liệt của MỊ lại trỗi dậy lần thứ ba khi bên bếp lửa, chị nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ khi anh bị cha con thông lí Pá Tra hành hạ, có nguy cơ mất mạng trong nay mai. Mị cảm thây người này cùng cảnh ngộ với mình, quyết định cởi trói cho A Phủ và sau đó chị chạy theo anh trôn khỏi cái nhà ngục của thông lí Pá Tra tại Hồng Ngài.

2. A Phủ – kẻ nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra

      – A Phủ là một chàng trai mồ côi khỏe mạnh, lao động giỏi, thạo công việc, lại cần cù, chịu khó, nhưng không thế lấy nổi vợ vì không có ruộng, không có bạc. Là một thanh niên dũng cảm cương nghị, A Phủ xông thẳng vào đánh ngã A Sử, con qụan thông lí khi tên này cùng bọn tay chân đến phá đám hội. Nhưng cũng do việc làm dó mà A Phủ bị thông lí Pá Tra bắt phạt vạ. Cảnh xử kiện hết sức quái gở là một biểu hiện đậm nét của tập tục dã man của chế dộ phong kiến miền núi. Bị cáo là A Phủ không được trình bày thanh minh gì cả. Quá trình xét xử diễn ra trong khói thuốc phiện, trong mưa đòn và ồn ào tiếng chửi rủa. Cuối cùng làng xử phạt A Phủ một trăm đồng bạc trắng. Không có tiền nộp, anh phải làm con trâu, con ngựa cho nhà Pá Tra để trừ nợ.

      – Từ đó, A Phủ trớ thành ke nô lệ của nhà thông lí. Anh phải lao động nặng nhọc vất vả đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thăn một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng. Nhưng chẳng may một hôm, hố vồ mất con bò. Thê là A Phủ bị thông lí trói vào cọc. Chúng dùng một sợi dây mây trói anh từ chán lên vai chỉ còn cổ và dầu là hơi lúc lắc được. Pá Tra bảo: Bao giờ chúng nó bắt được hổ về tao cho mày khỏi chết. Nếu không dựạc hổ thì cho mày chết ở đấy. Suốt mấy ngày liền A Phủ bị trói ở góc nhà như thế.

3. Mị cởi trói cho A Phủ

      – Lúc đầu Mị dửng dưng khi thấy A Phủ bị trói. Chị thản nhiên dốt lửa hơ tay. Lúc này, đúng là Mị đã trỏ’ lại tâm trạng ê chề sống mà như chết. Nhưng sau đó khi thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại, Mị chợt hồi tưởng mình củng từng bị trói như thể. Tìm thây sự đồng cảnh ngộ vói A Phủ và chị liên tưởng tới lúc A Phủ sẽ chết: Chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Chị lại tưởng tượng có khi A Phủ trôn dược, chị phải bị trói thay vào chỗ ấy. Thế là Mị đã hành động táo bạo và quyết liệt. Chị rút con dao nhỏ cắt lúa cắt dứt dây mây đế cởi trói cho A Phủ. Đây là một hành vi nối loạn của Mị. cắt dây trói của A Phủ cũng chính là chị đã cắt cái dây trói vô hình trói chị vào gia đình thống lí Pá Tra. Liền đó, hai người cùng trốn hỏi Hồng Ngài, cùng kết thúc cuộc đời trâu ngựa tỏi đòi. Giây phút này chính là cái bản lề khép lại một chuỗi ngày quá khứ đau thương tăm tối và hé mở ra tương lai tươi sáng cho lứa đôi này. Mị và A Phủ thành vợ chồng. Sống ở khu du kích Phiềng Sa, xây dựng hạnh phúc và hăng hái tham gia kháng chiến.

Mục lục soạn văn lớp 12 – Học tốt ngữ văn 12

About Học tốt ngữ văn

Check Also

Đại cáo bình ngô – Soạn văn lớp 10

Website: Soạn văn lớp 10, chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài Bình ngô đại cáo của nguyễn …