Home / Ngữ văn 12 / Tiếng hát con tàu – Soạn văn lớp 12

Tiếng hát con tàu – Soạn văn lớp 12

Website: Soạn văn lớp 12 sẽ giúp bạn soạn bài tiếng hát con tàu ngữ văn 12. soạn ngữ văn lớp 12,soạn bài,bai soan ngu van 12,soan ngu van 12,soan van lop 12,hoc tot ngu van 12,soan van 12,soạn văn,soan van lop 12,soan ngu van lop 12,nhung bai van hay lop 12,học tốt ngữ văn 12 luyện thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp

Các bài soạn văn lớp 12 trong tập 1: Click here

TIẾNG HÁT CON TÀU

I. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Tác giả

      Chế Lan Viên (1920 – 1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan quê ỏ’ xă Cam An, huyện Cam Lộ, tinh Quảng Trị. Con đường thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trờ, tìm tòi không ngừng. Trước Cách mạng, với tập thơ Điếu tàn, Chế Lan Viên thể hiện sự từ chối cuộc đời, tìm về thế giới điêu tàn, kinh dị, siêu hình và có xu hướng đi vào thần bí. Sau Cách mạng, thơ ông đã đến với cuộc sống của nhân dân, đất nước. Thơ Chế Lan Viên có phong cách rõ nét và độc đáo nổi bật là chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ vằ sự đa dạng, phong phú của thế giới hình ảnh

Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác

      – Bài thơ Tiếng hát con tàu rút ra từ tập Ánh sáng và phù sa (xuất bản năm 1960), tập thơ đánh dấu bước trưởng thành vững chắc cũng như vân động trong tư tưởng, tâm hồn của Chế Lan Viên với hành trình “từ thung lủng đau thương ra cảnh đồng vui”.

      – Bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian 1958 – 1960, đây là thời kì miền Bắc đi vào khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Những năm ấy có cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế miền núi đặc biệt là vùng Tây Bắc. Nhiều văn nghệ sĩ đã đến với Tây Bắc để tìm hiểu và sáng tác (Nguyễn Tuân với tùy bút Sông Đà, Nguyễn Khải với tập truyện ngắn Mùa lạc, Nguyễn Huy Tưởng với tiểu thuyết Bốn năm sau, những bài thơ như Lên miền Tây của Bùi Minh Quôc, Đoàn thuyền đánh cả của Huy Cận…). Chế Lan Viên lúc đó đang điều trị bệnh tại Hà Nội nhưng nhà thơ cũng muốn gửi lòng mình đến với Tây Bắc.

      – Bài thơ được khơi gợi cảm hứng từ vấn đề thời sự đó nhưng không dừng lại ở sự động viên, cố vũ lên Tây Bắc mà còn là khúc hát về lòng biết ơn, tình yêu và sự gắn bó với nhân dân, đất nước của một hồn thơ đã tìm thấy chân trời nghệ thuật mới của mình.

Các bài trước:

II. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

1. Giải thích ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con tàu và địa danh Tây Bắc, giải thích nhan đề bài thơ và bốn câu thơ đề từ.

      – Thực tế lúc đó chưa có đường tàu và cSl^tau lên Tây Bắc. Hình ảnh “con tàu” trong bài thơ chủ yếu mang ý nghĩa biểu tượng cho khát vọng đi xa đến những vùng đất xa xôi hòa vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân, đất nước. Đó còn là con tàu của tâm hồn nhà thơ khao khát về với ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật.

      – “Tây Bắc” ngoài nghĩa cụ thế chỉ miền đất vùng cao phía Tây Bắc của Tố quốc, nó còn biểu tượng cho mọi miền xa xôi của đất nước, nơi có cuộc sống gian lao mà sấu nặng nghĩa tình, khắc ghi kỉ niệm một thời kháng chiến. “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc”, Tây Bắc chính là Tố quốc.

      – Tiếng hát con tàu là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ, hăm hở, sôi nổi làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc, đến với cuộc sống lớn của nhân dân, cũng là đến với chân trời nghệ thuật mới.

      – Bốn câu thơ đề từ là những cuộc hóa thân kì diệu trong tâm hồn nhà thơ, nói lên được sự gắn bó máu thịt giữa thi sĩ với Tổ quốc, với cuộc đời – nơi tạo ra nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca.

2. Tìm hiểu bô cục bài thơ

      – 2 khổ đầu: Sự trăn trở, lời mời gọi lên đường.

      – 9 khổ giữa: Khát vọng về với nhân dân, nơi khắc ghi nhiều kỉ niệm nghĩa tình trong kháng chiến.

      4 khổ cuối: Khúc hát lên đường say mê, tin tưởng.

    Bố cục 3 phần đã thể hiện sự vận động của tâm trạng chủ thể trữ tình: phần đầu có sự day dứt, trăn trở. Đoạn giữa là dòng hoài niệm với cảm xúc thiết tha, biết ơn. Đoạn cuối sôi nổi, háo hức.

3. Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ:

      Con gặp lại nhân dẫn như nai về suối củ Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

      Tác giả đã tạo ra những cặp hình ảnh giàu tính tượng trưng, mỗi cặp một sắc thái khác nhau đế so sánh làm nổi bật niềm hạnh phúc lớn lao của (mình) khi từ bỏ thế giới nhỏ hẹp của cá nhân để về với nhân dân. Đối với người con ở đây, nhân dân là nơi chứa chan tình yêu thương, che chở, CƯU mang, là nguồn sống, là bầu sinh khí, tiếp sức cho anh.

      Hình ảnh so sánh phong phú chắt lọc từ đời sông thiên nhiên và con người nên rất bình dị, gần gũi. Cách sắp xếp hàng loạt hình ảnh so sánh cùng hướng tới một ý nghĩa tạo sự nồng nàn, tha thiết.

4. Nhân dân Tây Bắc trong hoài niệm của tác giả là những người dân lao động nghèo nhưng giàu lòng yêu nước, gắn bó nghĩa tình với kháng chiến. Đó là “người anh du kích”, đã hi sinh trong một trận công đồn, trước lúc ra đi còn nhường lại chiếc áo đang mặc cho người kháng chiến. Chỉ là “chiếc ảo nâu suốt một đời vả rách” nhưng nghĩa tình trong cử chỉ nhường áo đó mãi không thế quên. “Nhường cơm sẻ áo” đã trở thành những cử chỉ đẹp trong môi trường kháng chiến thiếu thốn. Trong bài Việt Bắc, Tố Hừu đã viết:

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

      Đó là hình ảnh “em liên lạc”, một em thiếu nhi Tây Bắc sớm có lòng yêu nước, tận tụy, đầy ý thức trách nhiệm với công việc “Mười năm tròn chưa mất một phong thừ”. Tinh cảm của em đối với người kháng chiến rất đáng trân trọng, yêu thương, bảo vệ người kháng chiến hết mình (Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ).

      Hình ảnh “mế”, người mẹ Tây Bắc ân cần chăm sóc người kháng chiến khi họ hị bệnh không phải một ngày, một tháng mà cả “mùa dài”. Tình mẹ đối với người kháng chiến chẳng khác tình ruột thịt. Hình ảnh mẹ càng đẹp hơn trong sự phản chiếu lung linh của “lửa hồng soi tóc bậc”.

      Hình ảnh cô gái Tây Bắc đọng lại trong cử chi ấm áp “Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch”, trong hương thơm của “vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng”. Tình quân dân lâu dần thành tình đôi lứa. Nỗi nhớ được so sánh bằng những hình ảnh bất ngờ, mới lạ, gợi được những tưởng tượng phong phú (Anh bỗng nhớ em như dông về nhớ rét, Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,…).

      – Cách xưng hô thân tình, ruột thịt (anh con, em con, ĩnế,…) hình ảnh chân thực, từ ngữ gợi cảm, so sánh độc đáo,… Đoạn thơ thể hiện lòng biết ơn, tình yêu thương sâu nặng đối với Tây Bắc. Nhân dân Tây Bắc như một đại gia đình ruột thịt của người kháng chiến.

      – Khổ thơ:

Nhớ bản sương giăng nhở đeo mây phủ

Nơi nào qua lòng lại chẳng yếu thương

Khi ta ở chỉ là nơi đất ờ

Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.

      Thể hiện niềm nhớ thương đằm thắm, sâu nặng với những mảnh đất mình đã đi qua. Những câu thơ triết lí nhưng không khô khan bởi vì nó dựa vào quy luật của tình cảm. Những miền đất lạ theo thời gian và nghĩa tình sẽ âm thầm bồi đắp tình yêu cho con người. Để rồi khi đi xa, những mảnh đất đó vẫn mãi theo người.

      Từ những cảm xúc suy tư về những chuyển hóa kì diệu của tâm hồn của người đúc kết thành triết lí đó chính là nét độc đáo trong phong cách thơ Chế Lan Viên.

5. Những câu thơ thể hiện rõ chất suy tưởng và triết lí của Chế Lan Viên:

Nhớ bản sương giăng nhớ đeo mây phủ

Nơi nào qua lòng lại chẳng yếu thương?

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn!

      Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cảnh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa què hương.

6. Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên trong bài thơ:

Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên hấp dẫn người đọc một phần là ở nghệ thuật sáng tạo hình ảnh. Biểu hiện ồ:

      – Sự phong phú, đa dạng của các loại hình ảnh:

      + Hình ảnh thực với chi tiết cụ thể (hình ảnh “mế”, hình ảnh người du kích, em liên lạc,…).

      + Hình ảnh biểu tượng (co/2 tàu, vầng trăng, mặt hồng em, suối lớn mùa xuân,…).

      + Hình ảnh tưởng tượng (con tàu mộng tưởng, mỗi đèm khuya uống một Vầng trăng,…).

      – Sử dụng đa dạng các phương thức sáng tạo hình ảnh:

      + Tả thực (khổ 6, 7, 8)

      + So sánh (khổ 5 và 10).

      + Ân dụ (con tàu, vầng trăng,…).

      Hình ảnh thường được tổ chức thành từng chuỗi liên kết, tiếp nối, bổ sung nhằm khắc sâu ý tưởng, cảm xúc.

Mục lục soạn văn lớp 12 – Học tốt ngữ văn 12

About Học tốt ngữ văn

Check Also

Đại cáo bình ngô – Soạn văn lớp 10

Website: Soạn văn lớp 10, chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài Bình ngô đại cáo của nguyễn …