Home / Ngữ văn 12 / Tây tiến Quang Dũng tt- Soạn văn 12

Tây tiến Quang Dũng tt- Soạn văn 12

Website: Soạn văn lớp 12 sẽ giúp bạn soạn bài tây tiến ngữ văn 12. soạn ngữ văn lớp 12,soạn bài,bai soan ngu van 12,soan ngu van 12,soan van lop 12,soan van 12,soan van 12,soạn văn,soan van lop 12,soan van 12,soan ngu van lop 12,nhung bai van hay lop 12,học tốt ngữ văn 12 luyện thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp

Các bài soạn văn lớp 12 trong tập 1: Click here

TÂY TIẾN

QUANG DŨNG

  cảm xúc bay bổng ở người lính Tây Tiến. Không chỉ có dịp được tiếp xúc với những nét đẹp đầy bản sắc văn hóa các dân tộc vùng cao, mà những “đêm hội” này còn tạo nên niềm mê say, xây đắp trong hồn lính Tây Tiến hồn thơ mơ tưởng đến ngày mai tươi đẹp ở Viên Chăn. Bcín câu thơ chan hòa màu sắc, âm thanh và rất tình tứ. Bút pháp lãng mạn cùng với tâm hồn trẻ trung hào hoa đã làm đẹp cho cảm xúc của tác giả.

    – Cảnh và người Tây Bắc trong kí ức của Quang Dũng vừa đẹp vừa gợi cảm:

   Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lủ hoa đong đưa

   + Quang Dũng không tả chi tiết mà qua một vài nét chấm phá hết sức tinh tế đã làm nổi bật cái hồn của cảnh sắc Tây Bắc trong một buổi “chiều sương”, điểm vào đó cái vẻ man mác buồn từ hình ảnh “hồn lau” bên những bến bờ vắng lặng. Không gian mênh mang, mờ ảo, tĩnh lặng, hoang dã. Cảnh đẹp trong cái buồn hiu hắt rất đặc trưng của miền sơn cước.

   + Trong không gian mờ sương ấy, nổi bật lên sự mềm mại, uyển chuyền mà rất ấn tượng cùa dáng người trên chiếc thuyền độc mộc, giữa dòng nước lũ. Hình ảnh ấy tạo thêm một nét đẹp rắn rỏi, khỏe khoắn cho bức tranh thiên nhiên thơ mộng.

Bốn câu thơ quả là “thi trung hừu họa”.

4. Phân tích chân dung người lính Tây Tiến và sự hi sinh bi tráng của họ trong đoạn 3 của bài thơ:

    – Hình ảnh người lính Tây Tiến xuất hiện từ đầu nỗi nhớ “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” nhưng chân dung của họ thực sự được khắc tạc là ở đoạn 3 của bài thơ. Bằng bút pháp lãng mạn nhưng không thoát li hiện thực, Quang Dũng đã cho ta cảm nhận về hình ảnh một đoàn quân mang trong mình bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ sẵn sàng hi sinh cho đất nước mà chẳng hề tính toán so đo.

    – Chân dung người lính được vẽ bằng những nét ngoại hình có phần kì lạ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lả dữ oai hùm.

     Hình ảnh thực nhưng cảm hứng sáng tác lại đậm chất lãng mạn anh hùng thể hiện ở cách tạo từ ngừ, sắp xếp từ ngữ gợi được vẻ đẹp kiêu dũng, ngang tàng, xem thường gian khổ và thiếu thốn của người lính. “Đoàn quăn không mọc tóc” là do bệnh sốt rét, tóc rụng không mọc lại được, vẻ ngoài có phần thay đổi so với ngày mới ra đi nhưng câu thơ lại không gợi sự than vãn mà có chút đùa vui, ngạo nghễ với sự độc đáo đó. Căn bệnh sốt rét cùng điều kiện chiến đấu ở rừng đã lấy đi màu da trắng trẻo thư sinh của người lính, họ thành đoàn quân “xanh màu lả”. Cũng vẫn là cách nói ngạo nghễ, màu xanh của cả đoàn quân mang sắc màu của núi rừng nên vẫn toát lên sự hào hùng, mạnh mè. Dũng khí của đoàn quân vẫn “dữ oai hùm” áp đảo kẻ thù. Hình ảnh này khiến ta liên tưởng đến câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” (Ba quân như hổ báo, nuốt trôi trâu) của Phạm Ngũ Lão.

    – Người lính Tây Tiến có tâm hồn mơ mộng lãng mạn.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

      Trong tư thế căng thẳng canh chờ giặc người lính đã mộng ngày chiến thắng. Đêm lại dành một góc tâm hồn để mơ “dáng kiều thơm”. Quê hương và người thân yêu bao giờ cũng là nỗi nhớ da diết của người lính. Người lính quyết tâm chiến đấu cũng là đế bảo vệ nhừng hình ảnh thân thương ấy. Người lính trong thơ Nguyễn Đình Thi cũng vậy:

   Những đèm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yếu.

    – Sự hi sinh bi tráng của người lính Tây Tiến được thể hiện trong những câu thơ đầy cảm xúc:

   Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Ao bào thay chiếu’ anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

      + Quang Dũng đã nói lên thực tế: Chiến tranh nào mà chẳng có mất mát hi sinh. Hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi biên cương xa xôi gợi nỗi buồn thê lương. Nhưng sự hi sinh xuất phát từ ý thức tự nguyện nên không nhuốm màu bi lụy. Người lính Tây Tiến biết đời người chỉ có một lần tuổi trẻ nhưng họ sẵn sàng hiến dâng cho đất nước chẳng cần suy tính, chẳng nuối tiếc. Câu thơ “Chiến trương đi chẳng tiếc đời xanh” chứa đựng tinh thần, khí phách hào hùng của tuổi trẻ một thời “quyết tử cho Tố quốc quyết sinh”. Lẽ sống và sự hiến dâng của họ thật đáng ngưỡng mộ.

       + Người lính ngã xuống nơi chiến trường, trong điều kiện kháng chiến còn nhiều thiếu thốn, đồng đội chỉ có thể khâm liệm bằng chính quần áo đơn sơ mà họ đang mặc, hoặc bó tạm trong những manh chiếu có lúc họ dùng đế khoác cho đờ lạnh. Chữ “ảo bào” vẫn nằm trong hệ thống từ ngữ nói cho vui, nói cho sang được dùng nhiều trong bài thơ. Họ sống, chiến đấu và chết đều rất giản dị. Chữ “về” gợi tình cảm yêu thương, gần gũi: Người lính hi sinh nhưng không mất, họ trở về đất mẹ, trong lòng Tổ quốc. Sông Mã, khí thiêng sông núi, tấu lên khúc tráng ca đưa tiễn linh hồn tử sĩ. Đau thương nhưng rất hào hùng.

5. Đoạn cuôi bài thơ có thể có nhiều cách hiểu. Nếu đặt trong cảm xúc về lính Tây Tiến từ đầu đến cuối bài thơ thì đoạn cuối này làm nổi bật không khí căng thẳng khốc liệt của cuộc kháng chiến và lời thề quyết tâm chiến đấu hi sinh vì mùa xuân đất nước của người lính. Nhưng nếu đặt trong nỗi nhớ của Quang Dũng về Tây Tiến thì đây là kết đọng tha thiết nhất. Mở đầu đã biết “xa rồi Tây Tiến ơi”, kết thúc vẫn biết “Đường lên thăm thẳm một chia phôi” nhưng lòng vẫn theo bước chân Tây Tiến, cùng Tây Tiến hướng tới mùa xuân chiến thắng.

III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

     Bút pháp Quang Dũng sử dụng trong bài thơ chủ yếu là bút pháp lãng mạn. So sánh với bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu càng thấy rõ điều đó.

  + Ớ bài Đồng chí, Chính Hữu chủ yếu dùng bút pháp tả thực làm nổi bật vẻ đẹp giản dị, chân chất của anh bộ đội xuất thân từ anh nông dân nghèo. Tất cả chi tiết, hình ảnh miêu tả người lính đều sát thực, không mĩ lệ hóa những thiếu thốn gian khổ mà họ đã trải qua. vẻ đẹp của người lính tập trung ở tình đồng chí, đồng đội được hình thành trên cơ ,sở cùng cảnh ngộ xuất thân, cùng lí tưởng chiến đấu, cùng chia sẻ gian lao, thiếu thốn.

  + Ở bài Tây Tiến, Quang Dũng thiên về bút pháp lãng mạn. Người lính Tây Tiến được đặt trong khung cảnh miền Tây vừa hoang sơ, dữ dội lại vừa hết sức thơ mộng. Ngòi bút Quang Dũng, chú trọng những nét độc đáo, khác thường và làm nổi bật vẻ đẹp hào hoa, kiêu hùng ở người lính, kể cả nét bi tráng của họ. Cảm hứng lãng mạn đã chi phối cách sử dụng ngôn ngữ- cách diễn đạt khoa trương, phóng đại (Đoàn binh không mọc tóc, dữ oai hùm) từ ngữ giàu tính biểu cảm (hoa về trong đêm hơi, xây hồn thơ, hội đuốc hoa, mộng, mơ Hà Nội dáng kiều thơm, áo bào thay chiếu,…), giọng thơ bi hùng (Rải rác biên cương mồ viễn xứ. Chiếc trường đi chẳng tiếc đời xanh, Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lèn khúc độc hành).

IV. TƯ LIỆU THAM KHẢO

1. Quang Dũng kể về Tây Tiến:

     “… Chúng tôi đi theo đường số 6, qua Suối Rút, thị trấn Hòa Bình nám ấy còn tự do. Sau chúng tôi chuyển sang hành quân băng đôi chân, thực sự nếm mùi Tây Tiến: mở rừng, ngủ rừng. Những cái dốc thăm thẳm  “Heo hút cồn mây súng ngủi trời”, những chiều “oai linh thác gầm thét”, những đêm “Mường Hịch cọp trêu người”, rồi rải rác dọc biên cương những “nấm mồ viễn xứ”… tôi mô tả trong bài thơ Tây Tiến là có thực, có pha chút âm hưởng Nhớ rừng của Thế Lữ, mà vô tình sau này tôi mới nhận ra.. Trong bài Tây Tiến, tôi viết ‘Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc”. Hồi ấy trong đoàn chúng tôi nhiều người sốt rét trọc cả đầu. Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn, mình lại không giữ vệ sinh vả lại có giữ cũng chả được, nên bộ đội không những bị ốm, mà còn chết vì sốt rét cũng nhiều. Chúng tôi đóng quân ở nhà dân, cứ mỗi lần nghe tiếng cồng nổi lên, lại tập trung đến nhà trưởng thôn để tiễn một người vĩnh biệt rừng núi. Tiếng cồng ở Tây Tiến thật buồn. Buồn đến nẫu ruột. Kể chuyện lại, bây giờ vẫn nghe văng vẳng tiếng cồng. Anh Như Trang hồi ấy là tiểu đoàn phó, có viết ca khúc Tiếng cồng quân y là vì như vậy.

      Đối với miền Tây, gay nhất là thuốc, vì đường tiếp tế rất khó. Tôi nhớ có lần được thuốc sốt rét từ khu II gửi lêp. Cụ Thi Sơn trong mặt trận Liên Việt tặng tlìuốc. Trong buổi lễ trao thuốc long trọng này, anh Hồng Thanh, chính ủy trung đoàn, đã thay mặt bộ đội nhận thuốc. Anh còn làm cả bài thơ. Tôi còn nhớ mấy câu:

      Một buổi sớm mọi người đều hoan hỉ Từ bệnh nhân bác sĩ đều vui Vì được tin khảng chiến chiến khu II Vừa gửi tặng 3000 viên thuốc sốt.

      Không hiểu cảm động vì có thuốc hay vì nghe thơ, mà anh Hồng Thanh đọc xong, ai cũng rưng rưng nước mắt.

    Tôi muốn gợi ý của bài thơ Tây Tiến để nói lên cái gian khổ, thiếu thốn của miền Tây. Ngay cả khi nằm xuống nhiều tử sĩ cũng không có đủ manh chiếu liệm. Nói “áo bào thay chiếu” là cách nói của người lính chúng tôi, cách nói ước lệ của thơ trước đây để an ủi những đồng chí của mình đã ngã xuống giữa đường…”

(Vũ Văn Sĩ ghi theo lời kể của nhà thơ Quang Dùng).

BÀI TRƯỚC

Cảm ơn các bạn đã ghé thăm website học tốt ngữ văn của tôi. Hy vọng với những kiến thức này sẽ giúp bạn hoàn thành việc soạn bài ngữ văn lớp 12 một cách dễ dàng

About Học tốt ngữ văn

Check Also

Đại cáo bình ngô – Soạn văn lớp 10

Website: Soạn văn lớp 10, chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài Bình ngô đại cáo của nguyễn …