Home / Ngữ văn 11 / Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao – Soạn văn lớp 11

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao – Soạn văn lớp 11

Web: Soan van lop 11, sẽ giúp bạn soạn văn soạn bài chí phèo của nam cao ngữ văn 11. Soan van 11,soạn văn,soan van lop 11,soan van 11,soan ngu van lop 11,nhung bai van hay lop 11,học tốt ngữ văn 11, luyện thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp,giải các câu hỏi trong sách giáo khoa một cách ngắn gọn súc tích dễ hiểu, ừ cơ bản đến nâng cao

Các bài soạn văn lớp 11 trong tập 1: Click here

CHÍ PHÈO (Trích)

Nam Cao

PHẦN THỨ HAI: TÁC PHẨM

Bài tập 1– Đọc mục Tiểu dẫn và cho biết xuất xứ của tác phẩm Chí Phèo. Tác phẩm đã được đánh giá như thế nào trong dòng văn xuôi hiện đại?

Gợi ý: Dựa theo mục Tiểu dẫn, SGK.

Bài tập 2– HS tóm tắt thành văn bản (nói hoặc viết) và trình bày trước lớp.

Gợi ý: Học sinh Có thể tóm tắt theo bốn sự việc:

  – Chí Phèo say rượu “vừa đi vừa chửi”;

  – Sự ra đời và xuất thân vốn lương thiện của Chí Phèo;

  – Chí Phèo thức tỉnh, sống trong tình yêu và sự săn sóc của Thị Nở;

  – Chí Phèo tuyệt vọng, uất ức đi đòi lương thiện).

Bài tập 3– Phân tích diễn biến tâm lí của Chí Phèo sau khi bị Thị Nở từ chối.

Gợi ý: Diễn biến trong tâm trạng Chí Phèo từ sau khi gặp Thị Nở là phức tạp nhưng có lô gích, đúng quy luật tâm lí. Đó là một quá trình tư thức tỉnh để hi vọng, tuyệt vọng và để báo thù. Diễn biến ấy như sau:

  – Từ sự thức tỉnh những cảm xúc thông thường của con người (nỗi buồn mơ hồ với bao nhiêu rung động sâu xa của những cảm giác, cảm xúc thuộc về con người) đến nỗi sợ cô đơn, nỗi khát khao trở về với xã hội bằng phảng, thân thiện với mọi người. Nỗi khát khao ấy càng tha thiết khi Chí Phèo bưng bát cháo hành cùng những chăm sóc mộc mạc tình tứ, chân thành của thị nở, nhận ra hương vị cháo cũng là hương vị của hạnh phúc, tình yêu.

  – Nhưng rồi Chí Phèo bị Thị Nở từ chối phũ phàng, Chí Phèo bấy giờ mới nhận ra số phận bi đát và bi kịch đau đớn của mình. Càng đau đớn càng uất hận, hắn vác dao đi trả thù. Việc Chí Phèo giết bá Kiến rồi tự sát là theo tâm lý giải toả bê tắc, trả thù của kẻ cô’ ciìiiq (bị cự tuyệt quyền làm người) liều thân. Thoạt đáu, có thể Chí Phèo hành động theo sự thúc đẩy bản năng, hay theo tiếng gọi (hoặc sự mách bảo) của tiềm thức. Nhưng về sau, khi đã giáp mặt bá Kiến, Chí Phèo đã hành động trong một trạng thái rất tỉnh táo: nhận thức đúng ai là kẻ đã đẩy mình đến tình trạng bi đát (cả đến người cuối cùng ở làng Vũ Đại có thể sống thân thiện với Chí Phèo là Thị Nở cũng từ chối Chí Phèo thì không còn gì bi đát hơn). Đó cũng là tình trạng tuyệt vọng cùng cực. Chí Phèo đã hành động vừa rất u tối, bản năng, vừa rất sáng suốt, tỉnh táo.

  – Xét về một mặt nào đó, chính sự từ chối của Thị Nở đã kéo Chí Phèo về với thực tại và nhận ra kẻ thù của mình trước hết vẫn là bá Kiến. Trong truyện, Nam Cao kể Chí Phèo ba lần đến nhà ba Kiến, lần nào cũng mang theo hung khí (một cái vố chai hoặc một con dao); nghĩa là, mâu thuẫn Chí Phèo – bá Kiến là mâu thuẫn không thể điều hoà, trước sau gì cũng bùng nổ thành án mạng.

Bài tập 4– Nhận xét về bi kịch cái chết của Chí Phèo.

Gợi ý: Bắt đẩu từ một buổi sáng. Đấy là buổi sáng mà hắn đã nghe được những âm thanh bình thường của cuộc đời: tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng người thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng cười nói của những người đi chợ. Những tiếng ấy hôm nào chả có nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy vì hôm nay hắn mới tỉnh rượu. Những âm thanh ấy làm thức dậy ước mơ xa xôi của một thời: một mái nhà tranh, một gia đình nho nhỏ… Hắn chợt nhận ra hắn đã già rồi mà vẫn còn đơn độc. Chí Phèo thèm khát được sống cuộc đời lương thiện như mọi người.

   Khó mà quên được hình ảnh Chí Phèo mắt “ươn ướt” khi bưng bát cháo hành của Thị Nở mà lòng cứ bâng khuâng. Hắn nhận ra một chân lí sơ đẳng của con người sống giữa mọi người và bỗng nhiên bừng ngộ ra một điều: những người không ăn cháo hành không biết cháo hành ngon. Bởi, có một cái gì đó sâu xa hơn hương vị cháo hành kia. Nhung tại sao đến tận bây giờ hắn mới được nếm mùi vị cháo? Hắn thèm một cuộc sống lương thiện, thèm cái tình nhân ái của con người. Hắn khát khao được chung sống hạnh phúc với Thị Nở, sống thân thiện với mọi người. Và hắn thốt lên với người mình yêu: “Giá như thế này mãi thì thích nhỉ”, sung sướng nhận được sự đồng tình của thị (“Thị không đáp nhưng cái mũi đỏ cửa thị như càng bạnh ra”). Nam Cao vui vẻ dự báo: “Chúng sẽ làm thành một cặp xứng đôi”. Thế mà Chí Phèo đã bị từ chối. Bà cô Thị Nở không cho hắn lấy thị vì cho rằng lấy ai chứ lại lấy Chí Phèo, một kẻ chí có một nghề duy nhất là rạch mặt ăn vạ, là một điều quá nhục nhã. Dưới mắt bà cô Thị Nở, dưới những cái nhìn đầy định kiến của xã hội, Chí Phèo chỉ có thể là con quỷ chứ không thể là con người. Định kiến ấy hằn sâu, khắc vào những vết mảnh chai rạch lên gương mặt Chí Phèo không thể xoá được. Chí Phèo tuyệt vọng cùng cực. Hắn nhận ra rằng, hắn không thể trở lại làm người lương thiện được nữa rồi. Đó là bi kịch đau đớn nhất, cay đắng nhất đối với hắn. Chí Phèo đã ý thức được rất rõ về nỗi đau này. Hắn “ôm mặt khóc rưng rức” khóc vì tuyệt vọng.

   Nỗi đau ấy khiến Chí Phèo uống rượu. Và trong cơn say – tinh, hắn muốn đi trả thù. Ban đầu hắn lẩm bẩm “phải đến cái nhà con dĩ Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó”. Nhưng trong tiềm thức hắn nhận ra kẻ gây ra nông nỗi này chính là bá Kiến. Đày mới là kẻ đã vạch lên gương mặt lương thiện của hắn những vết sẹo tội ác, đẩy hắn đến chỗ tuyệt vọng. Cho nên dù say rượu mà bước chân Chí Phèo vẫn đủ tỉnh táo. Và như một tất yếu, hắn đã vung dao đâm chết bá Kiến – nguyên nhân chính gây nên bi kịch của đời mình. Rồi cũng bằng con dao vấy máu đó, hắn đã tự vẫn, kết thúc một cuộc đời bi kịch.

   Cái chết của Chí Phèo là tiếng chuông cảnh tỉnh cả một xã hội đầy rẫy định kiến, thiếu tình nhân hậu, bao dung, vừa đẩy người ta đến chỗ tột cùng không lối thoát vừa không cho người ta cái cơ hội trở lại làm người. Đó là bi kịch về quyền được sống lương thiện, bi kịch vể lòng nhân ái….

Các bài trước:

Các bài sau:

Bài tập 5– Nhận xét về ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật của Nam Cao.

   Nam Cao tạo được giọng văn trần thuật độc đáo, kết hợp thật hài hoà giữa đối thoại và độc thoại, giữa lời gián tiếp và lời nửa trực tiếp. Do đặc điểm này, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhủn vật nhiều khi được lồng ghép vào nhau.

   Ngôn ngữ truyện vì thế vừa rất linh hoạt, uyển chuyển, vừa có tác dụng thể hiện tính cách, tâm lí của nhân vật. HS có thể phân tích một vài đoạn để làm rõ điểm đặc sắc này. HS cần nhận ra đặc điểm, chứ không nhất thiết phải phân tích, bình luận nhiều. Ví dụ: Nhận ra những đoạn văn sử dụng lời nửa trực tiếp (đoạn mở đầu; đoạn Thị Nở đi trút giận lên Chí Phèo,…); Những đoạn độc thoại (đoạn Chí Phèo tính rượu, hồi tưởng, điểm duyệt lại cuộc đời của mình; đoạn bá Kiến ấm đầu, lên cơn ghen ở gẩn cuối truyện), đối thoại hay (đối thoại thường là một chiều: Chí Phèo với Thị Nở, đối thoại bá Kiến – Chí Phèo trước khi xảy ra án mạng…).

Bài tập 6 Tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao qua truyện ngắn Chí Phèo?

Gơi ý: Để trả lời câu hỏi này, nên đặt Chí Phèo vào đề tài viết về người nông dân của Nam Cao và đặt Chí Phèo bên cạnh sáng tác của một số nhà văn khác (Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển…)

  – Riêng về mảng đời sống nông dân nghèo, Nam Cao để lại chừng hai chục truyện ngắn viết về cuộc sống tăm tối của người nông dân đương thời.

   Viết về nông dân, ‘Nam Cao thường đặc biệt chú ý đến những số phận bi thảm. Là nhà văn hiện thực, tác phẩm của ông trước hết chứa đựng những giá trị hiện thực và thái độ phê phán hiện thực. Đó là hiện thực về những người dàn quê thuộc hạng cố cùng, những số phận hẩm hiu, bị ức hiếp nhiều nhất. Họ càng hiền  lành, nhịn nhục thì càng bị chà đạp phũ phàng. Thông qua số phận các nhân vật này, Nam Cao đã phản ánh được chế độ thực dân trong những ngày cuối cùng của nó đã bóc lột, vơ vét người dân lao động đến cùng cực như thế nào.

   Tuy vậy, phát hiện sâu sắc nhất của nhà văn trong những sáng tác này là bi kịch của những số phận cùng quẫn, tha hoá, bi kịch bị từ chối quyền lùm người với một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Điều bi thảm nhất đối với những con người cùng quẫn, tha hoá ấy là muốn sống như những con người, muốn trở lại làm người mà không được. Ngòi bút Nam Cao dù có vẻ lạnh lùng, vẫn không giấu nổi đau đớn, bất bình khi viết về những trường hợp con người bị lăng nhục một cách độc ác, bất công, mà xét đến cùng, chẳng qua chỉ vì họ nghèo đói, khốn khổ. Nam Cao đã dút khoát bênh vực quyền sống và nhân phẩm những con người bất hạnh, bị xã hội đẩy vào tình cảnh nhục nhã đó (Chí Phèo, Một bữa no, Tư cách mõ, Lang Rận…); kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo đã tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động; đồng thời, ông vẫn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện đẹp đẽ của họ, ngay cả khi họ bị vùi dập tới mất cả hình người, tính người,…

  – Trên những phương diện đó, Chí Phèo là một tác phẩm có đóng góp mới mẻ, sâu sắc nhất: sự tha hoá của Chí Phèo là bi đát nhất và bi kịch bị từ chối quyền làm người ở nhân vật này cũng là đau đớn, bi thảm nhất, nên cái khao khát sống như một người lương thiện ớ Chí Phèo cũng thiết tha, mãnh liệt và khắc khoải nhất. Từ một anh canh điền hiền như đất, Chí Phèo bị xã hội biến thànb quỷ dữ, tự mình huỷ hoại mình, sống kiếp sống thú vật.

Mục lục soạn văn lớp 11 – Học tốt ngữ văn 11

About Học tốt ngữ văn

Check Also

Đại cáo bình ngô – Soạn văn lớp 10

Website: Soạn văn lớp 10, chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài Bình ngô đại cáo của nguyễn …