Home / Ngữ văn 10 / Phú sông Bạch Đằng – Soạn văn lớp 10

Phú sông Bạch Đằng – Soạn văn lớp 10

Website: Soạn văn lớp 10, chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài phú sông bạch đằng của trương hán siêu lớp 10 từ cơ bản đến nâng cao,. soạn ngữ văn lớp 10,soạn bài,bai soan ngu van 10,hoc tot ngu van 10,soan van lop 10,soan van 10, luyện thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp,  giải các câu hỏi trong sách giáo khoa một cách ngắn gọn súc tích dễ hiểu

Các bài soạn văn lớp 10 trong tập 1: Click here

PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG

Trương Hán Siêu

1. Đọc kĩ lại phần Tiểu dẫn, cần tóm tắt để nắm được bố cục bài phú, vị trí của chiến thắng Bạch Đằng trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc. Nắm được vị trí của đề tài sông Bạch Đằng trong văn học. Đọc lại các chú thích để hiểu các từ khó, các điển tích, điển cố được dùng trong bài.

2. a) Bài phú có hai nhân vật: chủ thể trữ tình (chính là tác giả) và nhân vật các bô lão xuất hiện với tư cách là đối tượng tâm tình (vai trò sẽ được nói kĩ hơn trong câu 4). Thực ra, nhân vật “khách” trong tác phẩm này chính là hình bóng của nhà văn. “khách” dạo chơi thiên nhiên, thăm chiến địa nhưng mục đích không phải chỉ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên mà còn để thoả cái thú tiêu dao, rong chơi bốn biển để nghiên cứu cảnh trí non sông, mở mang vốn tri thức cho mình, “khách” xuất hiện với tư thế của con người có tâm hồn khoáng đạt, có hoài bão lớn:

Nơi có người quơ, đâu mà chẳng biết.

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều,

Mà lòng tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.

 b) Cái “tráng trí bốn phương” của “khách” được gợi lên thông qua những địa danh nổi tiếng. Những địa danh này có hai loại: Loại địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc là loại địa danh mà tác giả (“khách”) đã đi qua chủ yếu bằng sách vở, bằng tưởng tượng (đây là một cách thể hiện nghệ thuật khá quen thuộc của thơ ca trung đại). Nó vừa thể hiện sự am hiểu sâu sắc của nhà văn về văn học và sử học Trung Hoa vừa nói lên vẻ đẹp tâm hồn của người nghệ sĩ. Những địa danh này đều gắn với không gian to rộng: biển lớn, sông hồ, gắn với những nơi nổi tiếng và đều thể hiện cái tráng chí bốn phương của “khách”:

Khách có kẻ:

Giương buồm giong gió chơi vơi,

Lướt bể chơi trăng mải miết

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,

Chiều lần thăm chừVũ Huyệt.

Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,

       Loại địa danh thứ hai là những địa danh của đất Việt, gắn với những không gian cụ thể: Cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng… Những địa danh này đều có thực và đang hiện hữu ngay trước mắt chủ thể trữ tình. Cảnh thiên nhiên đất Việt cũng vẫn được miêu tả với những nét vẽ rất hùng vĩ và hoành tráng:

Bát ngát sóng kình muôn dặm

Thướt tha đuôi trĩ một màu.

Song cũng có những nét ảm đạm, hắt hiu:

Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.

Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô…

       Từ hệ thống những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử mà nhà văn nhắc ở trên, chúng ta có thể nhận thấy “khách” là người có tầm hiểu biết rộng, có tráng chí bốn phương, ham thích cuộc sống phong lưu cùng thiên nhiên mây gió, thích thú tiêu dao và có tâm hồn tự do phóng khoáng.

3. Trước cảnh thiên nhiên sông Bạch Đằng (vừa hùng vĩ, hoành tráng lại vừa ảm đạm, đìu hiu), với một tâm hồn phong phú và nhạy cảm của người nghệ sĩ, “khách” vừa phấn khởi, tự hào lại vừa buồn thương, nuối tiếc, “khách” vui trước cảnh non sông vừa hùng vĩ vừa thơ mộng:

Bát ngát sóng kình muôn dặm,

Thướt tha đuôi trĩ một màu.

Nước trời: một sắc, phong cảnh: ha thu.

tự hào trước dòng sông từng ghi dấu bao chiến công hiển hách. Nhưng khách cũng buồn thương nuối tiếc vì chiến trưòmg xưa một thời oanh liệt nay trở nên trơ trọi, hoang vu. Dòng thời gian đang vùi lấp dần bao giá trị vào quá khứ:

Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô,

Buồn vì thảm cảnh, dứng lặng giờ lâu.

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!

       Về mặt nghệ thuật, những câu văn trong đoạn chủ yếu được ngắt bằng nhiều nhịp chẵn tạo nên giọng điệu nhịp nhàng, trầm lắng và khơi gợi nhiều nỗi suy tư.

4. Trong bài phú này, hình tượng các bô lão đóng vai trò là người kể chuyện và là người bình luận những chiến tích xưa. Các bô lão cũng đồng thời là đối tượng tâm tmh của nhân vật “khách”. Những nhân vật này có thể có thật – những người đã từng tham gia trận kịch chiến oai hùng thủa trước, nhưng cũng có thể là những nhân vật hư cấu, nhân vật đối thoại do nhà văn sáng tạo nên để dễ dàng bày tỏ những tâm tư tình cảm của mình.

       Các bô lão xuất hiện giữa lúc “khách” đang ngùi ngùi nhớ tiếc. Và thế là những chiến công xưa, đặc biệt là chiến công của “nhị thánh” được các bô lão hồi tưởng lại. Lời kể của các bô lão rành rọt theo trình tự diễn biến tình hình: từ lúc quân ta xuất trận với khí thế hào hùng (“Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới, Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói”), đến khi trận chiến diễn ra gay go, quyết liệt (“Trận đánh được thua chửa phân, Chiến luỹ bắc nam chống đối, ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, Bầu trời đất chừ sắp đổi”). Và rồi cuối cùng chính nghĩa đã chiến thắng gian tà, quân giặc “hung đồ hết lối” đành chấp nhận chuốc lấy bại vong:

Đến nay nước sông tuy chảy hoài,

Mà nhục quân thù không rửa nổi.

       Thái độ và giọng điệu của các bô lão khi kể chuyện đầy nhiệt huyết, tự hào. Nó đúng là cảm hứng của những người trong cuộc. Lời kể tuy ngắn gọn, súc tích và cô đọng nhưng vẫn khái quát đầy đủ, chân thực, sinh động không khí của trận đánh, của chiến trường.

       Phần kể của các bô lão được khép lại bằng những lời bình luận sắc sảo khẳng định ta thắng giặc vừa vì địa’thế núi sông hiểm trở, vừa vì đất nước ta có truyền thống tự ngàn xưa. Nhưng điều quyết định vẫn là ở nhân tố con người, vẫn là nhờ “nhân tài giữ cuộc điện ơn”:

Bấm 1 quảng cáo ủng hộ TINTUCQB

Hãy like fanpage để cập nhật thêm: TINTUCBQ.COM

Tuy nhiên: Từ có vũ trụ, đã có giang san.

Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở,

Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an.

Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,

Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.

5. Trong phần cuối, lời ca của các vị bô lão mang ý nghĩa tổng kết. Nó giống như một tuyên ngôn về chân lý:

Sông Đằng một dải dài ghê,

Luồng to sống lớn dồn vê hiển Đông.

Những người hất nghĩa tiêu vong,

Ngàn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

Mục lục các bài soạn:

       Lời ca của “khách” tiếp nối lời các bô lão là bài ca ca ngợi sự “anh minh” của “hai vị thánh quân” (vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông). Đồng thời ca ngợi giá trị của những chiến công (đem lại nền thái bình muôn thuở):

Anh minh hai vị thánh quân,

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp hình.

Giặc tan muôn thủa thăng hình,

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.

       Tiếp nối phần bình luận của các vị bô lão về lịch sử, hai câu cuối của bài ca này lại là lời khẳng định một chân lý nữa – chân lý về mối quan hệ giữa “địa linh” (đất hiểm) và “nhân kiệt” (người tài). Trong mối quan hệ ấy, nhà văn khẳng định “nhân kiệt” là nhân tố giữ vai trò quyết định. Ta thắng giặc không chỉ ở “đất hiểm” mà quan trọng hơn còn là bởi dân tộc ta có “đức cao”. Khẳng định chân lý này cũng là nêu cao vai trò của con người trong lịch sử. Sau này trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi cũng nhắc đến cái “đức” của ta:

Họ đã tham sống sợ chết, mà hòa hiếu thực lòng.

Ta lấy toàn quân là hơn để nhân dân nghỉ sức.

6. Giá trị nội dung của bài phú: Phú sông Bạch Đằng là tác phẩm tiêu biểu chơ dòng văn học yêu nước thời Lí – Trần. Bài phú thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc – tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất và truyền thống đạo lý nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm cũng thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò, vị trí của con người. 

       Giá trị nghệ thuật: Bài phú là một đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong lịch sử văn học Việt Nam. Phú sông Bạch Đằng có cấu tữ đơn giản mà hấp dẫn; bố cục chặt chẽ; lời văn, nhịp điệu uyển chuyển, linh hoạt; hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa gợi hình tượng vừa giàu sức khái quát và triết lý. Ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm trang trọng, tráng lệ, lắng đọng, gợi cảm và giàu chất suy tư.

7. So sánh lời ca của “khách” kết thúc bài Phú sông Bạch Đằng với bài thơ Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang) của Nguyễn Sưởng:

Mồ thù như núi, cỏ cây tươi,

Sóng hiển gầm vang, đá ngất trời.

Sự nghiệp Trùng Hưng ai dễ biết,

Nửa do sông húi, nửa do người.

(Bản dịch)

       Gợi ý: Lời ca của “khách”(cũng là một bài thơ) trong phần kết của bài Bạch Đằng giang phú và bài thơ Bạch Đằng giang của Nguyễn Sưởng có nhiều nét giống nhau: cả hai bài thơ đều thể hiện lòng tự hào trước những chiến công hiển hách trên sông, tự hào về tài năng, đức độ, về sự anh minh của hai vị thánh quân (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông). Hai bài ca còn bày tỏ thái đô đề cao, trân trọng vai trò và vị trí của con người trong quá trình làm nên lịch sử.

Mục lục soạn văn lớp 10 – Học tốt ngữ văn 10

Bấm 1 quảng cáo giúp Admin nhé

About Học tốt ngữ văn

Check Also

Đại cáo bình ngô – Soạn văn lớp 10

Website: Soạn văn lớp 10, chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài Bình ngô đại cáo của nguyễn …