Home / Ngữ văn 10 / Chiến thắng Mtao – Mxây – Soạn văn lớp 10

Chiến thắng Mtao – Mxây – Soạn văn lớp 10

       Chào mừng bạn đến với website: Soạn văn lớp 10, chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài ngữ văn 8 từ cơ bản đến nâng cao, giải các câu hỏi trong sách giáo khoa một cách ngắn gọn súc tích dễ hiểu. soạn ngữ văn lớp 10,soạn bài,bai soan ngu van 10,soan ngu van 10,soan van lop 10,soan van 10, luyện thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp

Các bài soạn văn lớp 10 trong tập 1: Click here

 

CHIẾN THẮNG MTAO – MXÂY

(Trích Đăm Săn – sử thi Tây Nguyên)

I. TIỂU DẪN

1. Nội dung trường ca Đăm Săn gồm ba phần chính:

     – Đăm Săn về làm chồng Hơ Nhị, Hơ Bhị và trở nên một tù trưởng giàu có, hùng mạnh.

     – Những chiến công của Đăm Săn đánh thắng các tù trưởng độc ác (tù trưởng Kên Kên, tù trưởng sắt), giành lại vợ, đem lại sự giàu có và uy danh cho mình và cộng đồng.

     – Khát vọng chinh phục thiên nhiên, vượt qua mọi trỏ ngại của tập tục xã hội (chặt cây thần), cầu hôn nữ thần Mặt Trời). Trên đường từ nhà nữ thần Mặt Trời trở về, chàng chết ngập nơi rừng Sáp Đen.

2. Đoạn trích trong toàn tác phẩm

     – Kể chuyện Đăm Săn đánh Mtao Mxây cứu vợ về.

II. PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH THEO HƯỚNG DAN HỌC BÀI

1. Đặc điểm đoạn trích là mô tả song hành hai tù trưởng trong suốt diễn biến cuộc chiến. Nghệ thuật miêu tả này có tác dụng làm nổi bật sự hơn hẳn của Đăm Săn so với Mtao Mxây cả về tài năng, sức lực, cả về phong độ, phẩm chất.

Diễn tiến cuộc chiến được mô tả như sau:

     – Đăm Săn khiêu chiến và Mtao Mxây đáp lại.

     – Ngay ở chặng này, trước thái độ quyết liệt của Đăm Săn, Mtao Mxây đã tỏ ra run sợ (sợ bị đâm lén, mặt mũi dữ tợn, trang bị đầy mình mà đã tỏ ra tần ngần, do dự, đắn đo,…).

     – Vào cuộc chiến

          + Hiệp một: Trong khi Mtao Mxây múa khiên trước, Đăm Săn vẫn giữ thái độ bình tĩnh, thản nhiên (điều này bộc lộ bản lĩnh của chàng).

          + Mặc dù đã tỏ rõ sự kém cỏi, nhưng Mtao Mxây vẫn tỏ ra huênh hoang.

     – Hiệp hai: Đăm Săn múa trước và lập tức Mtao Mxây đã hoảng hốt trốn chạy – chạy bước cao bước thấp (yếu sức). Hắn chém Đăm Săn nhưng trượt và sớm cầu cứu bên ngoài (Hơ Nhị).

     – Được Hơ Nhị tiếp sức, Đăm Săn mạnh hẳn lên.

     – Hiệp ba: Đăm Săn múa và đuổi theo Mtao Mxây. Đây là một đoạn múa rất đẹp và dũng mãnh (còn hơn đoạn múa ở hiệp hai) Đăm Săn đâm trúng kẻ thù, nhưng áo hắn không thủng. Chàng phải cầu cứu thần linh.

     – Hiệp bốn: Đăm Săn được thẩn linh giúp sức, đuổi theo và giết chết kẻ thù.

2. Cuộc đối thoại giữa -Đăm Săn với dân làng (nô lệ) của Mtao Mxây khi chàng đến từng nhà kêu gọi mọi người đi theo mình.

       + Số lần đốì – đáp: Cuộc đối thoại gồm 3 nhịp hỏi — đáp (Đăm Săn gọi – hỏi ý kiến và mọi ngươi hương ứng — đáp). Con số 3 mang ý nghĩa biểu tượng cho số nhiều, nhiều không tính xuề (đây lả con số xuất hiện nhiều lần trong tác phấm tự sự dân gian).

Chính do ý nghĩa biểu tượng đó mà số lần hỏi – đáp có sức phản ánh vừa cô đọng (đoạn này rất ngắn, diễn ra rất nhanh so với cảnh giao chiến giừa hai tù trưởng) vừa khái quát – nó cho thấy lòng môn phục, thái độ hướng ứng tuvệt đối mà mọi ngưừi dành cho Đăm Săn (chú ý: đây là những người vốn là nô lệ cho kẻ thù của Đăm Săn), họ đều nhất trí coi chàng là tù trưởng, là anh hùng của họ.

       + Mỗi lần đối đáp có sự khác nhau: Lần thứ nhất – Đăm Săn chỉ gõ vào một nhà; lần thứ hai – gõ vào tất cả các nhà; lần thứ ba – gõ vào mỗi nhà trong làng.

Sự lặp lại ỏ sử thi có đặc điểm là lặp lại có biến đổi, phát triển. Qua cả 3 lần hỏi – đáp, ý nghĩa khẳng định (lòng trung thành tuyệt đối của mọi nô lệ đối với Đăm Săn) ngày càng được tô đậm. Do thế, sau 3 lần hỏi — đáp là một đoạn mô tả kết thúc: Đăm Săn hô gọi mọi người cùng về và thế là diễn ra cảnh mọi người cùng ra về đông và vui như đi hội.

– Đăm Săn tập hợp được một lực lượng rất lớn cộng đồng theo minh. Điều này có ý nghĩa:

       + Thế hiện sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng của cá nhân anh hùng sử thi với quyền lợi, khát vọng của cộng đồng (người thắng và kẻ thua đều cùng một tộc người; trước cuộc chiến họ sông rời rạc thành hai nhóm, nay họ sông hòa hợp trong cùng một nhóm đông hơn, giàu hơn, mạnh hơn).

       + Thể hiện lòng yêu mến, sự tuân phục của tập thể cộng đồng đối với cá nhân anh hùng. Qua đó, sử thi muốn nói đến ý chí thống nhất của toàn thể cộng đồng Ê-đê – một biểu hiện quan trọng của ý thức dân tộc.

  • Thái độ của dân làng Đăm Săn đôi với chiến thắng của tù trưởng Đăm Săn của mình. Điều này bộc lộ trực tiếp qua lời nghệ nhân kể sử thi.
  • Thái độ của các tù trưởng xung quanh biếu hiện qua việc họ kéo đến cùng ăn mừng chiến thắng của Đăm Săn như ăn mừng chiến thắng của chính họ.

Tiểu kết: Người anh hùng sử thi được toàn thể cộng đồng suy tôn tuyệt đốì. Qua chiến thắng của cá nhân anh hùng sử thi cho thấy sự vận động lịch sử của cả một cộng đồng tộc người.

3.

   – Căn cứ vào độ dài, ngắn của hai đoạn dành cho việc kể và tả lại diễn biến trận đánh, kế và tả lại cảnh ăn mừng chiến thắng.

  – Căn cứ vào việc ở đoạn đầu tuy kế và tả cuộc giao chiến mà không hề có cảnh đố máu ghê rợn hay cảnh buôn làng tan tác sau cuộc chiến.

  – Căn cứ vào đoạn cuối tả cảnh chiến thắng hầu như không dùng nhừng câu đôi thoại ngắn, mạnh mà dành ưu tiên cho những trường đoạn dài, những kiểu câu cảm thán, những hô ngữ, những kiểu câu so sánh trùng điệp, liệt kê những biểu hiện của sự vui sướng, vẻ tưng bừng tấp nập của sự giàu có,…

   – Như vậy, sự lựa chọn của nghệ nhân sử thi có dụng ý

       + Tuy kể về chiến tranh mà lòng vẫn hướng về cuộc sống thịnh vượng, no đủ, giàu có, sự đoàn kết, thông nhất và lớn mạnh của cộng đồng tộc người.

       + Nói lên khát vọng lớn lao mà tộc người cùng thời đại gửi gắm vào những cuộc chiến tranh để phát triển và củng cố cộng đồng (xem lại ý nghĩa ở câu 2), đồng thời nói lên cả tầm vóc lớn lao của người anh hùng sử thi (được mô tả bằng bút pháp phóng đại quen thuộc của sử thi) đôì với lịch sử cộng đồng.

       + Người anh hùng sử thi trỏ thành trung tâm miêu tả của bức tranh hoành tráng về lễ mừng chiến thắng, sự lớn lao cả về hình thể, tầm vóc lẫn chiến công của chàng như trùm lên toàn bộ buổi lễ, toàn bộ thiên nhiên và cộng đồng dân làng.

4. Nhiều nhất là những câu sử dụng biện pháp so sánh.

       + So sánh tương đồng, có sửMụng từ so sánh (như gió lốc gào, như những vệt sao băng,…).

       + Quan hệ so sánh được tăng cấp bằng hàng loạt ngữ so sánh liên tiếp (đoạn tả tài múa khiên của Đăm Săn, đoạn tả cảnh đoàn người đông đảo, gồm cả kẻ thắng lẫn người thua, kéo theo Đăm Săn trở về buôn của chàng, đoạn cuối văn bản mô tả thân hình lực lưỡng của Đăm Săn,…).

       + So sánh tương phản (tả cảnh múa khiên của Đăm Săn và của Mtao Mxây).

       + Lối so sánh, miêu tả đòn bẩy dành miêu tả “tài” của địch thủ trước, tài của anh hùng sau, bằng cách đó để đề cao hơn nhân vật anh hùng.

   – Các hình ảnh, sự vật được đem ra làm chuẩn trong so sánh đều lấy từ thế giới thiên nhiên, từ vũ trụ. Dùng vũ trụ để “đo” kích cỡ nhân vật anh hùng là một cách phóng đại đề đề cao anh hùng. Nghệ thuật đó rất nổi bật ở sử thi, mang một giá trị thẩm mĩ đặc biệt. Đó là phọng cách nghệ thuật của sử thi.

IV. LUYỆN TẬP

1. Thần linh (ông Trời) cũng tham gia vào trận chiến đấu của con người

   – Quan hệ giữa thần linh với con người gần gũi, mật thiết hơn, thậm chí bình đẳng, thân tình hơn. Đó là dấu vết của tư duy thần thoại cố sơ còn chi phôi sự sáng tạo sử thi. Đó cũng là dấu vết của một xã hội chưa có sự phân hóa giai cấp rạch ròi.

   – Tuy có tham gia vào việc người, nhưng thần linh chỉ đóng vai trò “phụ vào” chứ không quyết định kết quả của cuộc chiến. Chiến công vẫn hoàn toàn tùy thuộc vào hành động người anh hùng.

   – Đó là một kiểu biểu hiện của ý thức dân chủ công xã thời thị tộc cổ xưa.

2. Như vậy, yếu tố thần linh góp phần đề cao vai trò của nhân vật anh hùng sử thi

      Cảm ơn các bạn đã ghé thăm website của tôi. Hy vọng với những kiến thức này sẽ giúp bạn hoàn thành việc soạn bài ngữ văn lớp 10 một cách dễ dàng

About nguyenvannam038

Check Also

Đại cáo bình ngô – Soạn văn lớp 10

Website: Soạn văn lớp 10, chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài Bình ngô đại cáo của nguyễn …