Home / Ngữ văn 11 / Chí phèo của Nam Cao – Soạn văn lớp 11

Chí phèo của Nam Cao – Soạn văn lớp 11

Web: Soan van lop 11, sẽ giúp bạn soạn văn soạn bài chí phèo của Nam Cao ngữ văn 11 t. Soan van 11,soạn văn,soan van lop 11,soan van 11,soan ngu van lop 11,nhung bai van hay lop 11,học tốt ngữ văn 11, luyện thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp,giải các câu hỏi trong sách giáo khoa một cách ngắn gọn súc tích dễ hiểu, ừ cơ bản đến nâng cao

Các bài soạn văn lớp 11 trong tập 1: Click here

CHÍ PHÈO

Nam Cao

A. TÁC GIẢ NAM CAO

  1. Tìm hiểu tiểu sử tác giả

Bài 1: Đọc và tóm tắt mục Vài nét về tiểu sử và con người vào vở nháp, trình bày trước lớp.

Gợi ý tóm tắt: Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh năm 1917, mất năm 1951, quê ở phủ Lí Nhân (nay là huyện Lí Nhân), tỉnh Hà Nam.

    Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân, sống gắn bó với người dân nông thôn nên có sự cảm thông và am hiểu sâu sắc nỗi thống khổ của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

Sau 1945, ông hăng hái tham gia phong trào cách mạng và kháng chiến, tự nguyện làm “tuyên truyền viên” của cách mạng.  Ông đã hi sinh trong một lần đi công tác trong vùng địch hậu Ninh Bình (1951).

  1. Tìm hiểu sự nghiệp văn học

Bài 2: Đọc và tóm tắt mục sự nghiệp văn học vào vở nháp, trình bày trước lớp.

Gợi ý tóm tắt:

1- Các đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao?

2- Các tác phẩm chính (Điền vào ô trống):

3- Cao.

Gợi ý: Dựa vào bài đọc trong SGK và tư liệu tham khảo vừa nêu trên, HS trình bày theo hai ý:

– Tính hiện thực của tác phẩm (là khuynh hướng phản ánh trung thành hiện thực cuộc sống).

– Giá trị nhân đạo (lòng yêu thương, sự cảm thông, tinh thần đấu tranh cho quyền sống và giá trị chân chính của con người).

4- Tóm tắt quan điểm nghệ thuật của nhà văn Nam Cao trong các sáng tác trước và sau Cách mạng (Đứng trên lập trường của chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhân đạo, có ý thức về sứ mệnh cao cả của người cầm bút).

5- Phong cách nghệ thuật của Nam Cao? (Có thiên hướng nội tâm, đi sâu miêu tả tâm lí; có kết cấu tâm lí; giọng văn buồn thương, chua chát, lạnh lùng mà đầy sự thương cảm, đằm thắm yêu thương.

6- Diễn đạt ngắn gọn sự nghiệp sáng tác của Nam Cao.

Gợi ý: Trước Cách mạng, Nam Cao thường sáng tác về hai đề tài: người nông dân và trí thức nông thôn. Sau Cách mạng, ông thường viết về diễn biến tâm lí của tầng lớp trí thức cũ khi đi theo Cách mạng và tham gia kháng chiến.

Thành công chủ yếu của ông là ở thể loại truyện ngắn. Các tác phẩm chính: Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn… (trước 1945); Đôi mắt, Nhật kí Ớ rừng, kí sự Chuyện hiên giới… (sau 1945).

Tác phẩm  Nam Cao thể hiện tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương, gắn bó sâu nặng với người nông dân nghèo khổ, giàu ân tình với quê hương. Lí tưởng nghệ thuật “vị nhân sinh” và nghệ thuật hiện thực rất đậm nét trong sáng tác của ông.

Năm 1996, Nam Cao được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

B. TÁC PHẨM

I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

1. Hiểu được những nét chính về con người, sự nghiệp văn học của Nam Cao.

2. Hiểu và phân tích được các hình tượng nhân vật, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo, từ đó thấy được giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu sắc của đoạn trích và của tác phẩm.

3. Hiểu được một số nét nghệ thuật đặc sắc của Nam Cao như điển hình hoá nhân vật, kết cấu, trần thuật, miêu tả tâm lí…

Các bài trước:

Các bài sau:

II. MỘT SỐ KIẾN THỨC CẦN THAM KHẢO

  1. Về Nam Cao và tác phẩm

    Nam Cao chỉ cầm bút trong khoảng mười lăm năm (1936 – 1951), một khoảng thời gian khá ngắn ngủi, nhưng ông đã để lại những thành tựu to lớn cho văn học Việt Nam hiện đại. Truyện của Nam Cao trước Cách mạng tập trung vào hai đề tài chính: cuộc sống người trí thức nghèo và cuộc sống người nông dân nghèo. Tác phẩm của ông thường chỉ xoay quanh một tư tưởng chung: niềm băn khoăn trước tình trạng con người bị huỷ hoại về mọi mặt do hoàn cảnh đói nghèo đưa tới.

    Nam Cao để lại khoảng vài chục truyện ngắn viết về cuộc sống tăm tối của người nông dàn đương thời. Những truyện đáng chú ý là: Chí Phèo, Trẻ con khônq được ăn thịt chó, Mua danh, Tư cách mõ, Điếu văn, Một bữa no, Lão Hạc, Một đám cưới, La MỊ Rận, Dì Hảo, Nửa đêm,…

    Trong đề tài viết về nông thôn, Nam Cao thường đặc biệt chú ý đến những sô’ phận bi thảm của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Là nhà văn hiện thực phê phán, tác phẩm của ông trước hết chứa đựng những giá trị hiện thực và thái độ phê phán hiện thực. Đó là hiện thực về những người dân quê thuộc hạng khốn cùng, những số phận hẩm hiu, bị ức hiếp nhiều nhất. Họ càng hiển lành, nhịn nhục thì càng bị chà đạp phũ phàng. Thông qua số phận các nhân vật này, Nam Cao đã phản ánh được chế độ thực dân trong những ngày cuối cùng của nó đã bóc lột, vơ vét người dân lao động đến cùng cực.

    Tuy vậy, phát hiện sâu sắc nhất của nhà văn trong những sáng tác này là khơi sàu bi kịch của những số phận cùn ạ quẫn, tha hoá hay bi kịch bị từ chối quyên lủm uy ười với một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Các nhân vật như Chí Phèo (Chí Phèo), anh cu Lộ (Tư cách mõ), bà lão “chết no” (Một bữa no), lão Hạc (Lão Hạc)… là hiện thân đầy đủ của người nông dân nghèo đang bị huỷ diệt mất nhàn tính khi bị đẩy vào cuộc sống khốn cùng không lối thoát. Điều bi thảm nhất đối với những con người cùng quẫn, tha hoá ấy là muốn sống như những con người, muốn trở lại làm người mà không được. Ngòi bút của ông dù có vẻ lạnh lùng, vẫn không giấu nổi đau đớn, bất bình khi viết về những trường hợp con người bị lăng nhục một cách độc ác, bất công, mà xét đến cùng, chẳng qua chỉ vì họ nghèo đói, khốn khổ. Nam Cao đã bênh vực mạnh mẽ quyền sống và nhân phẩm những con người bất hạnh, bị xã hội đẩy vào tình cảnh nhục nhã (Chí Phèo, Một bữa no, Tư cách mõ, Lang Rận…)-, đã lên án sâu sắc cái xã hội tàn bạo đã tàn phá cả thể xác và linh hồn người nông dân lao động; đồng thời, ông vẫn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện, đẹp đẽ của họ ngay cả khi họ bị vùi dập tới “méo mó cả nhân hình lẫn nhân tính”.

    Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao hăng hái tham gia công tác cách mạng và kháng chiến. Ông tự nguyện làm người “cán bộ tuyên truyền vô danh” của cách mạng và có ý thức tự rèn luyện, cải tạo mình trong thực tế kháng chiến. Truyện ngắn Đôi mắt (1948) là một thành công xuất sắc của văn nghệ kháng chiến khi đó. Nhìn vào hình ảnh một trí thức cũ đi tản cư theo kháng chiến nhưng vẫn giữ nguyên lối sống trưởng giả, nhởn nhơ và “đôi mắt” khinh bạc tệ hại đối với quần chúng – một hình ảnh thật lạc lõng giữa cuộc sống kháng chiến lành mạnh, sôi nổi lúc bấy giờ – người trí thức đi theo cách mạng Nam Cao càng thêm dứt khoát từ bỏ con người cũ, lối sống cũ và quyết tâm “cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt”, trở thành những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá – tư tưởng,

    Truyện ngắn này thường được xem là tuyên ngôn nghệ thuật của ông và của thế hệ những nhà văn như ông. Ngoài ra, nhật kí Ở rừng (1948) viết trong thời kì Nam Cao công tác ở vùng rừng sâu Bắc Cạn và tập kí sự Chuyện hiên giới (1950) viết khi ông đi chiến dịch Cao – Lạng, đều là những sáng tác có giá trị của nền văn xuôi mới còn non trẻ khi đó. Nhà văn hi sinh giữa lúc tư tưởng và tài năng đang độ phát triển nhất trong thời đại mới, đầy hứa hẹn.

    Ngòi bút Nam Cao vừa tỉnh táo, sắc lạnh, nặng trĩu suy nghĩ và đằm thắm yêu thương. Truyện ngắn Nam Cao vừa hết sức chân thực, vừa thấm đượm ý vị triết lí trữ tình. Những truyện đời tưởng như vặt vãnh, tầm thường, nhàm chán nhưng khi vào trang viết của Nam Cao lại trở nên hấp dẫn và gợi được nhiều ý tưởng sâu sắc, lớn lao.

    Nam Cao có sở trường diễn tả, phân tích tâm lí con người. Nhiều người xem ông là một nhà văn có biệt tài trong nghệ thuật phân rích, diễn tả tâm lí nhân vật. Đẻ nhập vào những quá trình tâm lí phức tạp và thể hiện sinh động những quá trình ấy, ông thường chú trọng việc khấc hoụ tâm trạng; dựng đối thoại, độc thoại nội tâm; khai thác triệt để kết cấu tủm ỉí và thường sử dụng rất thành công hình thức tự truyện.

    Truyện của Nam Cao cũng mang tính triết lí sâu sắc – một thứ triết lí xuất phát từ cuộc sống thực và từ chính tâm tư đầy đau đớn, dằn vặt của nhà văn. Hình tượng nghệ thuật của ông thường gắn liền với những mệnh đề triết lý và thường gợi ra những tư tưởng giản dị mà sâu. Ngôn ngữ Nam Cao sống động, uyển chuyển, tinh tế, rất gần với lời ăn tiếng nói quần chúng.

    Với một tài năng lớn, giàu sức sáng tạo, Nam Cao đã góp phần quan trọng vào việc cách tân nền văn xuôi Việt Nam theo hướng hiện đại hoá. Đó là sự vận dụng khai thác những ưu thế của thể loại, đặc biệt là thể truyện ngắn; là cách tạo và thay đổi giọng điệu độc đáo, linh hoạt (khi tự sự lạnh lùng, khinh bạc, khi trữ tình sôi nổi, thiết tha); cách kể chuyện sáng tạo, lối hành văn linh hoạt… Tất cả đều cho thấy một lối viết độc đáo, thú vị, lôi cuốn, hiếm có trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam hiện đại.

  1. Về truyện ngắn Chí Phèo

    Là tác phẩm có dung lượng của một tiểu thuyết, Chí Phèo kể lại toàn bộ cuộc đời của nhân vật với nhiều quan hệ, sự kiện. Nam Cao đã dồn nén tất cả vào trong truyện ngắn, đan xen giữa phần trần thuật về hiện tại với hồi ức về quá khứ.

    Chủ đề của tác phẩm phản ánh nỗi cơ cực của lóp người “dưới đáy” của xã hội nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Chí Phèo, một con người khốn cùng, “tứ cố vô thân”, từng bước trượt dài trên con đường tha hóa, bị đẩy ra khỏi quĩ đạo làm người. Nhờ quan hệ với Thị Nở, hắn đã tỉnh thức và khát khao được sống cuộc đời lương thiện, nhưng xã hội cũ tàn bạo đã vô tình từ chối Chí, không cho Chí cơ hội để trở lại làm người lương thiện. Vì thế, Chí đã rơi vào tuyệt vọng. Trong cơn say, hắn đã đến nhà Cu Bá đòi lương thiện, đâm chết Bá Kiến, và tự sát. Đây là bi kịch đẫm máu, là tiếng chuông cảnh tỉnh con người và xã hội đương thời đã đánh mất lòng nhân ái.

III. NỘI DUNG BÀI HỌC

    Nam Cao là nhà văn có vị trí khá đặc biệt trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 nói riêng và trong văn học hiện đại Việt Nam nói chung. Tuy sống và sáng tác trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng Nam Cao đã để lại những thành tựu rất lớn trong văn học Việt Nam thời kì hiện đại. Một trong những tác phẩm quan trọng của ông là truyện ngắn Chí Phèo được sáng tác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Bài học này sẽ giúp các em tìm hiểu rõ hơn Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo.

Mục lục soạn văn lớp 11 – Học tốt ngữ văn 11

About Học tốt ngữ văn

Check Also

Đại cáo bình ngô – Soạn văn lớp 10

Website: Soạn văn lớp 10, chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài Bình ngô đại cáo của nguyễn …